Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

7.THÍCH QUÁ! VƯỜN CHIM JURONG BIRD PARK.

Hai mẹ con tôi đi bằng xe điện ngầm MRT đến ga Boon Lay, rồi đi xe bus SBS 194 đến Vườn chim Jurong (Jurong Bird Park). Tuy không phải là ngày cuối tuần nhưng hành khách cũng chật ních trên xe. Phần lớn là các gia đình dắt con cái đi chơi. Trong mấy ngày tham quan ở đây, tôi thấy nơi này là điểm tham quan có đông trẻ con nhất.

Vườn chim Jurong rất rộng, ước khoảng hơn 20 ha, là nơi cư trú của hơn 9000 cá thể chim thuộc hơn 600 loài khác nhau. Jurong Bird Park được công nhận là công viên chim lớn nhất khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Vườn chim nằm ngay dốc phía Tây của ngọn đồi Jurong xinh đẹp với nhiều hồ nước trong vắt, những thác nước trắng xóa, những thảm cỏ xanh rì, những vườn hoa rực rỡ sắc màu, những khu rừng rậm rạp…Thế giới chim rất đa dạng và nhiều chủng loại phong phú: từ các loài sang trọng như thiên nga, hoàng hạc, trĩ, đà điểu, sáo, vẹt, kéc… cho đến những loài bình dân như vịt ta, vịt xiêm, gà tàu, gà lôi, cò, vạc, bồ nông, cú… thậm chí những loài chim ăn thịt như quạ, ó, đại bàng, kênh kênh… cũng có mặt! Mỗi loài chim một màu sắc: trắng tinh khôi, hồng phơn phớt, vàng kim óng ánh, vàng nghệ, đỏ như mặt trời, như ánh lửa, xanh mướt như lá non, nâu thẫm, đen tuyền, nhiều màu xen lẫn … tạo thành một bức họa nhiều màu sắc!
Bước đến khu Waterfall, du khách sẽ ngỡ ngàng trước những con suối róc rách, những thác nước trắng xóa (tất cả đều là phong cảnh nhân tạo), là chỗ cư trú của hơn 1500 chú chim Châu Phi. Chuồng chim Đông Nam Á với những cơn bão nhiệt đới nhân tạo dành cho những con chim xứ nóng. Loài cú sống trong những “địa đạo” có tên “Vương quốc của bóng tối”, đang mở to những đôi mắt tròn xoe, nhìn du khách qua lại với cái nhìn buồn thảm.
Loài chim cánh cụt sống ở Hồ Penguin Parade, một “Ngôi nhà Nam cực” bằng kính, nơi nhiệt độ luôn dưới 0 độ, để băng không bao giờ tan chảy. Mặc cho du khách nối đuôi đi qua trước mắt, ngắm nghía, chỉ trỏ, trầm trồ, chúng vẫn thoải mái đùa giỡn, rượt đuổi, chọc phá vô tư. Có những gia đình yêu thương, trìu mến nhau rất hạnh phúc bình an. Nơi này, trên mặt hồ trong xanh, từng cặp thiên nga trắng muốt đang âu yếm hôn nhau. Nơi khác, từng đàn hồng hạc kiêu hãnh ngẩng cao đầu, trêu ghẹo, cãi cọ bằng một thứ âm thanh ồn ào, vui nhộn.
Khi hai mẹ con tôi vừa đặt chân đến vườn cát, nơi cư trú của loài đà điểu, cũng là lúc đến giờ ăn trưa của chúng. Từng chiếc xô đựng chuối đã được các nhân viên chăm sóc đà điểu sắp sẵn trước cổng chuồng. Du khách có thể nhận mỗi người một, hai quả chuối để cho lũ chim háu đói kia đang háo hức, chầu chực. Những chiếc đầu be bé, lông tóc lơ thơ, đang nghiêng nghiêng ngó ngó chúng tôi. Vừa nhác thấy những bàn tay của du khách chìa những quả chuối chín vàng đưa qua cổng chuồng, chúng đã vội vã chen lấn nhau. Những chiếc mỏ bé xíu (so với thân chim) nhanh nhẹn tranh nhau đớp từng quả chuối, nuốt vội rồi há miệng tiếp tục xin ăn. Không khí thân thiện giữa người và chim đã tạo nên những âm thanh ồn ào, sôi động. Tiếng cười nói của du khách hòa cùng những tiếng “krét…krét…” phát ra từ cổ họng của chim như một bản hợp xướng lộn xộn mà vui tai! Chỉ thoáng chốc, mấy xô chuối đã hét veo và giờ ăn kết thúc. Một vài chú đà điểu háu đói còn nấn ná ra vẻ tiếc nuối, các chú khác đã lần lượt tản ra rượt đuổi nhau chạy tung tăng.
Sau khi lang thang khắp mọi chỗ, chân cẳng bắt đầu mỏi, chúng tôi dừng chân nơi “Nhà hát trung tâm” chờ xem chương trình biểu diễn đặc sắc của những loài chim sang trọng. Dưới tán dù rộng che mát một khoảng sân chừng 500 mét vuông, các băng ghế từ thấp lên cao sắp sẵn theo hình vòng cung bao quanh sân khấu lộ thiên đang mời mọc chúng tôi. Tiếng nhạc nổi lên rộn rã, chương trình biểu diễn bắt đầu. Mở màn là tiết mục “Chào hỏi”. Một đàn hoàng hạc lúp xúp nối đuôi nhau chạy ra xếp hàng, cúi chào, rồi trình diễn vũ điệu flamenco uyển chuyển thật nhịp nhàng và chuyên nghiệp. Khi âm nhạc chuyển sang điệu samba, đàn chim bạch hạc túa ra nhảy múa vui nhộn và sống động. Cô xướng ngôn viên vừa là người điều khiển chương trình vũ điệu của chim luôn miệng giới thiệu vừa dí dỏm vừa duyên dáng cũng góp phần hấp dẫn du khách. Tiếp theo là trận thi đấu “Bóng rổ” rất thú vị của hai chú kéc dưới sự giám sát của trọng tài kiêm xướng ngôn viên. Chú kéc vàng mỏ đỏ có vẻ chuyên cần dùng mỏ nhặt thật nhanh những quả bóng trên phần sân của mình đem bỏ vào giỏ lưới. Còn chú kéc xanh mỏ vàng có vẻ chễnh mãng hơn, vừa bước ra sân, chú bắt đầu lân la, ngắm nghía tới lui vài ba bận, rồi mới đi đến chỗ để bóng, nhẹ nhàng nhón một quả, nhảy chân sáo đến bỏ vào giỏ lưới. Trong khi chú kéc vàng đã nhặt đến quả bóng cuối cùng, thì chú kéc xanh vẫn còn nhẫn nha, đủng đỉnh với hai quả nữa. Tiếng cỗ vũ, những tràng pháo tay vang dội cũng không làm cho chú kéc xanh thay đổi “phong cách chơi”. Cô trọng tài vừa thổi còi vừa đếm 1,2,3…Tiếng “ba” vừa dứt, chú kéc vàng đã được công bố là “kẻ thắng trận”. Khán giả hoan hô nhiệt liệt trong tiếng hò reo, huýt sáo không dứt. Kẻ chiến thắng không biểu lộ vui mừng mà kẻ chiến bại cũng không tỏ vẻ buồn bã gì hết! Sau khi hoàn thành tiết mục biểu diễn của mình, mỗi chú kéc đều được cô trọng tài thưởng cho một miếng mồi đưa vào tận miệng.
Một tiết mục vui tiếp theo là một cô kéc xanh khác hát tặng khán giả bài hát “Happy birthday”. Sau lời giới thiệu đầy ấn tượng của người dẫn chương trình, cô nàng kê chiếc mỏ màu đỏ tươi sát vào micro và cất giọng “kéc xanh” (chớ không phải “oanh vàng”) thỏ thẻ. Thú vị biết bao khi nghe giọng hát trong trẻo và nhí nhảnh của “nữ ca sĩ”! Có lẽ phải công phu luyện tập nhiều lắm mới có được tiết mục đặc sắc này. Trong khi “ca sĩ kéc” hát, các khán giả “nhí” cũng hòa giọng hát theo, khiến cho không gian âm nhạc vui nhộn cả một góc trời Vườn chim Jurong.
Âm nhạc vừa dứt, từ trên chòi cao, một chú vẹt màu sắc rực rỡ lao ra, bay vòng quanh khán trường hai, ba vòng như chào khán giả, rồi dừng chân đậu trên vai của một nhân viên điều khiển chương trình. Một nhân viên khác đứng ở góc đối diện tay cầm một chiếc vòng tròn có dán giấy bóng kính màu đưa lên cao, miệng gọi tên chú vẹt. Xẹt một cái, chú vẹt hồ hỡi lao tới, dùng mỏ đâm thủng lớp giấy bóng kính, bay vèo qua, đậu trên cánh tay của một nhân viên khác nữa. Khán giả vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Anh nhân viên nhanh nhẹn và khéo léo đút vào mỏ chú vẹt một miếng mồi thưởng công cho “chàng”. Chú chàng tỏ vẻ khoan khoái, líu ríu những âm thanh vui vẻ như cảm ơn.
Càng về cuối, chương trình biểu diễn càng sôi động náo nhiệt khi cô dẫn chương trình yêu cầu: “Ai xung phong?”… Khán giả đưa tay xin hưởng ứng thật đông đảo. Cuối cùng, người dẫn chương trình cảm ơn khán giả và chỉ xin chọn hai người, một cô gái đứng trên băng ghế, tay giơ lên cao tờ giấy bạc 10 đô Sin và một nam thanh niên, dạn dĩ, có vóc dáng cao ráo, khỏe mạnh đáp ứng được yêu cầu đưa cánh tay làm “giá đỡ” cho một chú chim khác đang chuẩn bị biểu diễn. Đây là tiết mục “xin tiền” rất ngoạn mục. Từ bên trong những vòm cây sum suê, vụt bay ra một cánh chim đại bàng màu xám. Đây là loại chim hung dữ với chiếc mỏ quặp rất sắc và sải cánh khá rộng. Sau khi lượn vài vòng quanh khán trường, chú sà xuống đậu trên cánh tay của người thanh niên xung phong. Anh thanh niên thoáng chút giật mình nhưng cũng đủ bình tĩnh gồng cánh tay thật rắn chắc đỡ toàn bộ sức nặng của chú chim khổng lồ này. Tiếng vỗ tay vỡ ra những âm thanh rào rào. Chưa kịp dứt đợt vỗ tay thứ nhất, tràng vỗ tay thứ hai cấp tập, tới tấp, dòn dã hơn, nồng nhiệt hơn, khi chú đại bàng vụt cất cánh về phía cô gái xung phong kia, khéo léo gắp lấy đồng tiền 10 đô một cách ngoạn mục, trong lúc cô gái đang sợ hãi nhắm nghiền hai mắt. Thật là ấn tượng! Tôi cũng không ngờ con đại bàng to và có vẻ nặng nề ấy lại bay lượn rất nhẹ nhàng và sử dụng cái mỏ sắc nhọn gắp tờ giấy bạc nhỏ nhắn một cách điệu nghệ, “trên cả tuyệt vời”! Gắp được tờ giấy bạc xong, chú lượn mấy vòng trên không một cách thích thú trước khi hạ cánh chính xác trên cánh tay của cô dẫn chương trình đồng thời thả tờ giấy bạc vào lòng bàn tay của cô gái. Lập tức, cô dúi vào chiếc mỏ cứng sắc ấy một miếng mồi tươi (một con cá nhỏ) thay cho lời tán thưởng. Con gái tôi luôn miệng: Thích quá má ơi! Thích quá! Vậy mà con không biết chương trình biểu diễn hay như vậy nên bỏ qua sô diễn lúc 10 giờ rồi! Tiếc quá! Mai mốt đi nữa nha!
Trong bóng hoàng hôn sắp tắt, mẹ con tôi ra trạm xe buýt trong câu chuyện Sở thú mình cần qua đây học tập Vườn chim để có được những sô diễn hấp dẫn du khách mới được! Và suốt trên đường về, cô con gái “rượu” của tôi cứ vẽ vời một Sở thú tương lai vào năm 2017, khi “cháu ngoại tương lai” của tôi tròn 5 tuổi…

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Gởi hai trẻ.

Mấy ngày nay soạn sách vở cũ, mình tìm lại được tập thơ một thời "lãng mạn" lúc đi dạy ở Thạnh Phú. Mừng sao là mừng! Được sống lại những kỷ niệm của thời thơ trẻ, mình thấy lòng phơi phới thanh tân. Trong tập thơ, mình có chép bài thơ của Mẹ tặng cho "hai đứa" lúc mới "yêu nhau". Ngày xưa, mình đọc bài thơ chỉ "cảm xúc" dạt dào trước tình thương của Mẹ. Bây giờ đọc lại mới thấy Mẹ rất yêu thương mình và cũng rất hiểu "con trai của Mẹ"! Lời thơ của Mẹ vừa dự cảm tương lai vừa nghiêm khắc dặn dò. Ôi! Thương Mẹ biết bao nhiêu! Mẹ ơi!

Gởi hai trẻ

Mấy vần thơ gởi các con,
Một trăm ngày bệnh mỏi mòn tâm tư.
Run run thị phách dật dờ,
Ngăn giòng cảm xúc lướt chờ…bệnh qua.
Nghề con không phải nghề thơ,
Giáo sư văn nghệ mộng mơ ít nhiều.
Tình thơ ôm ấp nâng niu,
Xin đừng lầm lẫn cô liêu hận nàng.
Cái ghen là cái phụ phàng,
Cánh chim hạnh phúc dễ dàng xa bay.
Trò đời lắm chuyện lá lay,
Chớ mang vận ý trao người ngoài ta.
Bể yêu dầu mấy bao la,
Tình đầu tình cuối chỉ ta với nàng.
Trăm năm một chuyến sang ngang…
Bệnh viện, 14-2-1978
Mẹ Trần Thị Đạm (Đạm Thanh)

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Trong Nỗi Nhớ Âm Thầm

Bài thơ này là kỷ niệm của một thời lãng mạn nhất trong đời tôi. Xin góp nhặt vào đây để nhắc nhớ "hai đứa mình", anh nhe!

(Gởi Anh một nỗi nhớ rất âm thầm)

Những tờ lá chết rũ trên sân,
Ta góp về đây, giữa mùa xuân.
Đốt bao nỗi nhớ tan thành khói,
Một nhánh buồn chia, khắp mấy tầng?

Trông bóng chiều lên theo khói bay,
Lòng ta nhung nhớ cũng dâng đầy.
Gởi trong cánh khói, hồn ta đó,
Về người yêu dấu, cuối chân mây…

Mênh mang nỗi nhớ tự trăm năm,
Cũng tỉ người xưa nhớ tri âm.
Khói ơi! Tan cả theo mây gió,
Nỗi nhớ trong ta vẫn âm thầm…

Chiều đã tàn, nhưng lòng nhớ mong,
Nhớ theo sợi khói, nhớ vương lòng.
Buổi chiều, đốt lá trên thềm cũ,
Nhớ vẫn tràn trề chia mấy sông…

(Phú Khánh, chiều 26-2-1978, kỷ niệm ngày sinh của Tuyết)

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Một chút hoài niệm!

Buổi tối, quanh bàn trà, mấy người bạn "già" của Mái Ấm Bồ Đề nhắc chuyện thời đi học... Bỗng anh Văn Tài đọc mấy câu cuối trong bài thơ "Nhà Tôi" của Yên Thao, rồi cả đám bạn cùng hòa giọng đọc theo và cùng cười vui: Ủa! Sao ai cũng biết bài thơ này hết vậy!... À, thì ra, bài thơ này hồi xưa tụi mình có học mà... Vậy đó mà cả đám đồng cảm chia sẻ.

Mình thì có kỉ niệm với bài thơ này trong mùa hè 1977, trong đợt bồi dưỡng chính trị hè cho giáo viên cấp ba của tỉnh Bến Tre, khi giải lao giữa buổi học, mình đại diện đơn vị trường cấp ba Thạnh Phú, ngâm bài thơ tặng cho lớp bồi dưỡng. Xin chép lại bài thơ Nhà Tôi theo trí nhớ của mình, gọi là một chút hoài niệm.

NHÀ TÔI
Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy, xạm đen màu tiết đọng
Tre cau gầy, tóc rũ ướt sương mưa
Nếp đình xưa,
Người hỡi, đau gì không?

Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương tự thuở máu khơi dòng
Buông tay gầy vui lại thuở bình Mông
Ghì nấc súng, nhớ ai ngày đắc thắng
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm
Áo nào phai không sót chút màu xưa…

Đêm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn, lấp lánh sao lưa thưa
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi, cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn, thơm thơm mùi lúa chín.
Ai bước đi mà không từng bịn rịn
Rời yêu thương nào có mấy ai vui?
Em lặng hồn, nhìn vói lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ…
Tôi còn người mẹ tóc ngả màu bông
Tuổi già non thế kỉ
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ lòng rút mãi cho lòng héo hon
Ôi! Xa rồi mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt
Mong con phương trời
Có chồng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe dồn tiếng súng nhớ ngày chia ly
Mẹ ơi! Con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc, con về mẹ vui…

Đêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ
Trông im lìm như một nấm mộ ma
Có còn không, em hỡi! Mẹ tôi già!
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa.

Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu xanh đầy bụi viễn phương
Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy giặc.

Này anh đồng đội
Này bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ?
Mà tôi nghe trại giặc tan tành!
Anh rót cho khéo nhé
Kẽo nhầm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý, có người tôi thương…

YÊN THAO

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Ấn tượng đầu tiên về Xứ Phật



Từ sân bay Suvarnabhumi – Thái Lan, chúng tôi đến sân bay Kolkata - Ấn Độ đúng 19:30. Ấn tượng đầu tiên khi vừa đặt chân đến sân bay Kolkata là cái không khí ồn ào, hỗn tạp “quen thuộc” thường thấy ở một bến xe, hay một nhà ga ở Việt Nam. Các gian phòng làm việc ở đây thiếu sự thông thoáng, những ngọn đèn điện tỏa thứ ánh sáng vàng hoạch, khiến ta có cảm giác mọi thứ đều nhuộm một màu xin xỉn, cũ kỹ và có chút gì đó dơ bẩn! Các nhân viên làm việc đều là nam giới. Họ mặc Âu phục rất giản dị: có người mặc áo sơ mi trắng hoặc màu, có người mặc áo sơ mi kẻ sọc, không phải đồng phục như ta thường gặp. Quan sát khung cảnh chung quanh, tôi không khỏi có ý nghĩ so sánh nơi này với nơi tôi vừa rời khỏi và tưởng tượng đến những điểm “tham quan” còn ở phía trước, tôi có chút băn khoăn!


Sau hơn 2 tiếng đồng hồ làm thủ tục nhập cảnh cho đoàn gồm 72 người, 22:00 chúng tôi mới bắt đầu lên xe ca để đến điểm tham quan đầu tiên là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodha Gaya). Mặc dù anh nhà tôi đã search trên Google map để giới thiệu trước cho tôi các địa điểm sắp đến, biết trước đoạn đường từ Kolkata đến Bồ Đề Đạo Tràng dài gần 500km, nhưng tôi vẫn không khỏi hồi hộp trên mỗi chặng đường. Sau khi mọi người đã yên vị trên xe, khoảng 20 phút sau, dù xe lắc tới lắc lui nghiêng ngã, ai nấy đều ngoẻo đầu ngủ ngon lành! Tôi không cảm thấy buồn ngủ, nhưng khi phải căng mắt ra để nhìn chung quanh mình, nhìn ra ngoài cửa xe, toàn là bóng tối, tôi chợp mắt lúc nào không biết. Tôi giật mình thức giấc khi văng vẳng bên tai giọng của một người phụ nữ miền Bắc chì chiết, mạt sát ai đó. Tiếp theo, giọng một người phụ nữ miền Nam càu nhàu phân bua, như muốn tìm người cùng “phe cánh” với mình. Mọi người, cũng giống như tôi, lục tục thức giấc. Lắng nghe hai bên đôi co, cãi cọ giây lát, mọi người bèn hiểu chuyện. Chị người miền Bắc ngồi hàng ghế trên, ngã lưng ghế ra phía sau để ngủ, không ngờ cái chốt giữ cho lưng ghế cố định bị lờn, lưng ghế ngã hẳn ra sau, đè lên bắp đùi của chị miền Nam đang ngồi ở đấy. (À, thì ra, chiếc xe đưa chúng tôi đi là loại xe cũ, băng ghế đã hỏng hóc, có lẽ giông giống tình hình xe cộ ở Việt Nam thập niên 80 của thế kỉ trước.) Lỗi không thuộc về ai, nhưng cả hai đều không tìm được giải pháp nào có lợi cho mình nên to tiếng để nhờ tập thể phân xử. Một giọng nói trầm trầm, điềm tĩnh, khuyên can: Thôi, mỗi người chịu khó nhường nhịn một chút đi, đi hành hương chứ có phải đi du lịch đâu mà đòi tiện nghi! Một chị ngồi hàng ghế trước mặt tôi xung phong đổi chỗ ngồi cho chị miền Nam để hai bên không cãi cọ nữa. Tôi trộm nghĩ: Toàn là “bạn lữ” với nhau cả mà vẫn còn sân si như vậy đó! Nếu không phải “bạn lữ” với nhau, không biết ra sao à nghen! Bầu không khí trong xe được thanh tịnh trở lại, mọi người lại tiếp tục giấc ngủ dang dở. Tôi chợt tỉnh giấc lần thứ hai khi chiếc xe dừng lại trước một motel bên cạnh một cây xăng dọc đường. Không có đèn đường. Chỉ có ánh sáng yếu ớt từ cây xăng dọi ra và ánh sáng của vài ngọn đèn vàng khè trong motel hắt lại. Sư Cô trưởng đoàn thông báo cho mọi người đi vệ sinh và để “ban hậu cần” nấu mì gói phục vụ cho tập thể. Ai đói bụng, có thể dùng mì gói “không trả tiền” (free). Tôi nhìn đồng hồ trong chiếc điện thoại di động, bây giờ đã 2 giờ sáng. Vậy là chúng tôi đã ngồi trên xe suốt 4 tiếng đồng hồ rồi đó. Mọi người lục tục xuống xe, tìm chỗ đi vệ sinh. Quả thật là mỗi người phải tìm chỗ riêng mà “xả nước cứu thân” chứ ở đây không có nhà vệ sinh công cộng! Ngay lúc này tôi chợt nhớ những cây xăng dọc đường ở xứ mình thường thường có khu vực vệ sinh riêng cho nam nữ. Tôi còn nhớ trong câu chuyện văn hóa trên báo chí nước mình thỉnh thoảng cũng đề cập đến vấn đề xây dựng nhà vệ sinh công cộng ở những nơi chợ búa, thị tứ, công viên… Nhiều ý kiến cho rằng dân mình chưa ý thức giữ vệ sinh nơi công cộng như các nước tiên tiến, còn có người đứng đái đường nên trên tường của một khu trường học hoặc một cơ quan, dinh thự nào đó vẫn phải viết lên tường hàng chữ thiếu thẩm mỹ: Cấm đái! Bây giờ, trên đường đi đến xứ Phật, tôi gặp phải một chuyện bất ngờ và gây phản cảm như vậy, tôi không khỏi ái ngại! Thì ra, xứ mình vẫn có chút ít tiến bộ hơn nơi này! Đoàn hành hương lại tiếp tục lên đường. Trên con đường thiên lý, bóng tối vẫn bao trùm vạn vật. Dường như chúng tôi đang vượt qua những cánh rừng bạt ngàn, không bóng dáng của nhà cửa, không một ngọn đèn đường. Thỉnh thoảng, một chiếc xe chạy ngược chiều pha ngọn đèn quá sáng, tôi mới thấy được cảnh vật hai bên đường trong ánh đèn lấp loáng. Rất nhiều xe tải và xe container đậu dọc hai bên lề đường, dường như tài xế và người áp tải hàng dừng lại để nghỉ qua đêm! Chiếc xe đưa chúng tôi đi vẫn gầm gừ vượt qua những chặng đường một cách mỏi mệt. Hơi lạnh của trời đêm gay gay trên da thịt. Tôi lấy trong túi xách chiếc áo khoác, nhẹ nhàng choàng qua vai và tiếp tục ngủ gà gật trong âm thanh rền rỉ của tiếng máy xe “quá date”! Chiếc xe thắng gấp. Tiếng siết của vỏ xe trên mặt đường ê cả óc! Cả người tôi bị dồn đẩy về phía trước khiến tôi giật mình tỉnh dậy. Có tiếng càu nhàu đâu đó trong xe, không phải một mà nhiều tiếng xen lẫn nhau. Rồi tiếng nói của một người nam (có lẽ là Thượng tọa Giác Tùng): Chắc tới chỗ rồi đó! Tôi nhìn ra phía ngoài cửa xe, không gian vẫn âm âm u u, đẫm sương đêm lạnh lẽo. Dưới ánh sáng vàng khè của ngọn đèn đường, hai dãy nhà hai bên phố cửa đóng im ỉm. Trước mặt tiền, nhà nào cũng có gắn bảng hiệu, có bảng toàn chữ Ấn Độ (không biết có phải!), cũng có bảng kèm theo một vài tiếng Anh “Hotel”, “Motel”. Tôi nhận ra đây là dãy nhà nghỉ hoặc khách sạn gì đây! Nhưng hình ảnh đập vào mắt tôi là một thanh niên khuyết tật, râu tóc xạc xờ , áo sống tả tơi, hai chân bị teo nhỏ, đang bơi thật nhanh thật nhanh bằng hai cánh tay khẳng khiu, bám sát theo xe. Tôi không thể ngờ được sức mạnh của đôi cánh tay gầy guộc và còng queo đó có thể nâng bổng thân người và kéo theo hai chân bất động để đuổi theo kịp chiếc xe đang chạy! Không thể kìm nén được, nước mắt của tôi tự nhiên tuôn trào ra. Một dấu hỏi to tướng trong đầu tôi. Tôi chưa kịp nghĩ ra chuyện gì, thì từ trong ngõ khuất kia xuất hiện hai chiếc xe đạp ba bánh, có đóng thùng để ngồi, được cải tạo để dành riêng cho người khuyết tật hai chân, dùng tay để quay trục pê đan. Trên một xe có chở theo một người phụ nữ và hai đứa bé gầy gò, rách rưới như nhau. Có vẻ đây là một gia đình(?). Bên lề đường kia, hai bóng áo nâu đỏ, một bé, một lớn, đầu trọc, tay ôm bình bát, cũng vội vã chạy đến đứng gần chỗ xe đang dừng. Rồi một đám trẻ em, ăn mặc rách rưới, trên tay mỗi em là một ôm bông súng đỏ, ra vẻ như đang mời mọc. Sau ít phút dừng lại để hỏi thăm đường, chiếc xe bẻ cong đánh một cua vòng quẹo sang hướng khác. Cả đám người lếch thếch kia đang chầu chực vụt chạy theo hướng xe đang quẹo, lại tiếp tục cuộc đeo bám. Xe dừng hẳn. Mọi người trong xe đều tỉnh thức để chuẩn bị xuống xe. Tuy mặt trời chưa ló dạng, nhưng dường như sinh hoạt ở đây diễn ra không kể đêm hay ngày. Các chú bé ôm hoa tiến sát cửa xe mời mọc, một chú giơ 3 ngón tay ra dấu rồi chỉ vào mớ hoa súng đang ôm trước ngực. Một vài em biết bập bẹ dăm câu tiếng Anh “Hello! Hello!...” vừa ngô nghê vừa liến thoắng cười xã giao để mong bán được hàng. Bất giác tôi nhớ đến những em bé Việt Nam đeo bám khách Tây để chào mời mua bưu ảnh trên lề đường Đề Thám, đường Phạm Ngũ Lão…(Quận 1, Sàigòn) mà đôi lần tôi bắt gặp trên đường. Hóa ra, ở nơi nào trên trái đất này, con người cũng đáng thương như nhau! Tôi đang đi đến xứ Phật để lần tìm dấu tích của Vị Thầy Toàn Giác mà lâu nay tôi kính ngưỡng và thiết tha tu học đạo của Ngài. Và sáng tinh mơ hôm nay, ngay khi vừa đến Bồ Đề Đạo Tràng, chứng kiến những cảnh khổ của kiếp nhân sinh hiện tại, tôi hiểu được phần nào tâm trạng của Thái Tử Tất Đạt Đa xưa kia, “Chúng sanh từ đâu đến cõi đời ô trược này để chịu nhiều điều đau khổ”! Để rồi khi Bồ Tát Sĩ Đạt Đa thành Phật, tự chứng ngộ tam minh lục thông, Đức Phật mới dạy rằng: “Chúng sanh vô minh tạo nghiệp mà luôn trôi lăn mãi trong luân hồi lục đạo, vô cùng đau khổ”. Vì vậy, Đức Phật ví cuộc đời là biển khổ, và từ vô thỉ kiếp đến nay, nước mắt chúng sanh đã tuôn rơi vì đau khổ còn nhiều hơn nước của bốn đại dương! Thế nhưng, cuộc đời này có mấy ai ý thức được điều này để dừng lại, để đi tìm nguồn hạnh phúc chân thật trong kiếp nhân sinh này!

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Nhớ Saigon

(Chat với Sơn Thủy,
làm mình nhớ Sài Gòn
thời trẻ quá chừng!)

Nhớ Sài Gòn mỗi sáng mỗi chiều tất bật
Đạp xe đi về, hai bận qua cầu
Cơn gió vô tình thổi lồng đôi tà áo
Thoáng ngập ngừng, bối rối, gì đâu!

Nhớ Sài Gòn trời chợt mưa chợt nắng
Góc phố nào ta dừng lại trú chân
Vẫn vội vã trên đường, dòng xe như thác
Rất lạ lùng mà cũng rất quen thân.

Nhớ Sài Gòn lang thang chiều thứ bảy
Đôi gót tình nhân khua nhẵn vỉa hè
Hành lang Eden lá me đan kín lối
Ta, một mình, nghe lạnh cả hai vai!

Này nhỏ, chiều nay trời mưa hay nắng?
Em đi dạo dùm ta một chút Sài Gòn
Cuối tuần này, em có ai đứng đợi?
Xin hãy cùng ta xuống phố đi rong!

Bến Tre, 27/3/2011

TÌNH LỠ LÀM SAO QUÊN!

(Xin tặng Người, thay cho lời tạ lỗi!)

Tình lỡ như đường gươm rất cũ
Vết thương đau, mãi tận bây giờ!
Người đi – tăm cá theo năm tháng
Ta vẫn cùng chăn chiếu bơ vơ.

Thêm một lần cho ta vĩnh biệt
Cuộc tình buồn quá đủ hư hao.
Yêu người, ta gánh thêm lận đận
Hết một đời, còn hẹn kiếp nao!

Xin trao hết cho người nước mắt
Của một thời thiếu nữ thanh tân.
Xếp lại áo khăn thời hoa mộng,
Biết đã rồi, tình lỡ làm sao quên!
23/3/2011